Khẩn trương đưa Nghị quyết Trung ương 6 (khóa 12) vào cuộc sống
Cập nhật lúc22:25, Thứ Năm, 30/11/2017 (GMT+7)

(HPĐT) - Đó là nhấn mạnh của đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tại bế mạc Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 (khóa 12) của Đảng, sáng 30-11.

 

Dự hội nghị tại điểm cầu Hải Phòng có các đồng chí: Lê Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố; Nguyễn Thị Nghĩa, Phó bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng; Nguyễn Văn Tùng, Chủ tịch UBND thành phố; các Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó chủ tịch HĐND, UBND thành phố; các Ủy viên Thành ủy; nguyên lãnh đạo chủ chốt thành phố; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể; lãnh đạo các cơ quan báo chí; báo cáo viên Thành ủy, cộng tác viên dư luận xã hội của thành phố. Ngoài điểm cầu tại Trung tâm hội nghị thành phố, các quận, huyện trên địa bàn thành phố đều tổ chức điểm cầu kết nối trực tuyến với điểm cầu trung ương.

 

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương kết luận hội nghị.  Ảnh: Duy Thính
Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương kết luận hội nghị. Ảnh: Duy Thính

 

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng, khẳng định: Các nội dung của Hội nghị Trung ương 6 (khóa 12) được các đồng chí báo cáo viên quán triệt sâu sắc, giúp các đại biểu nhận thức một cách toàn diện, làm cơ sở trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết trong thời gian tới. Hội nghị diễn ra nghiêm túc với gần 134 nghìn đại biểu tham dự ở hơn 900 điểm cầu trên cả nước; nhiều tỉnh, thành phố tổ chức kết nối trực tuyến tới các xã để truyền đạt nghị quyết. Các đại biểu tham dự hội nghị thể hiện trách nhiệm cao, nhận thức đúng về tầm quan trọng, những yêu cầu của hội nghị lần này.

 

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định: 4 nghị quyết được Hội nghị Trung ương 6 ban hành là những quyết sách quan trọng của Đảng, đề cập nhiều vấn đề rộng lớn, hệ trọng của đất nước, vừa cơ bản, vừa cấp bách và là sự cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng đề ra. Đây cũng là những vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân, có ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc, thể hiện bản chất ưu việt, tốt đẹp của chế độ, được xã hội đặc biệt quan tâm.

 

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết, tại hội nghị quán triệt còn một số ý kiến đóng góp xoay quanh 3 nội dung chính, đồng thời phân tích làm rõ, giải đáp một số vấn đề nêu ra.

 

Về việc xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp những cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện phải sắp xếp, cơ cấu lại và tinh giản biên chế, trong quan điểm thứ 3 của Nghị quyết số 18/NQTƯ nêu rõ “có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp”, trong kế hoạch số 07-KH/TƯ ngày 27-11- 2017 của Bộ Chính trị cũng giao Ban Cán sự Đảng Chính phủ 21 nhiệm vụ. Trong đó có việc nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20-11-2014 theo hướng các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động quyết định và chịu trách nhiệm về việc giảm biên chế; thực hiện nghiêm chính sách theo quy định và bảo đảm kinh phí để thực hiện từ năm 2018. Do đó, chắc chắn quyền lợi của người lao động thuộc diện tinh giản biên chế sẽ được quan tâm giải quyết.

 

Các đồng chí lãnh đạo thành phố tại điểm cầu Hải Phòng
Các đồng chí lãnh đạo thành phố tại điểm cầu Hải Phòng

 

Về các ý kiến đề nghị giải thích mức độ căn bệnh “quan liêu” trong cán bộ, đảng viên, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết, đây là vấn đề cơ bản nhưng rất cấp bách. Vấn đề quan liêu, mệnh lệnh, xa dân từng được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng. Gần đây nhất, trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa 12) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ cũng xác định: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở”, đưa thành biểu hiện thứ 5 trong số 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống.

 

Về nhóm ý kiến đề nghị phân tích rõ thêm trách nhiệm của tập thể và cá nhân để xảy ra tình trạng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cồng kềnh, chồng chéo, đồng chí Võ Văn Thưởng nêu rõ, đây là kết quả của cả quá trình lâu dài, tích tụ những bất hợp lý trong bộ máy nhà nước nhiều năm qua Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá 11, 12), biểu hiện này khá rõ. Nghị quyết Trung ương nêu một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhưng trong đấu tranh, đánh giá, trong phê bình, tự phê bình thì bộ phận này ở đâu ấy, không phải trong cơ quan, đơn vị, chi bộ mình”, nguyên nhân do trong quá trình quán triệt nghị quyết, trong kiểm điểm, đánh giá không soi rọi những biểu hiện nghị quyết Đảng đưa ra.

 

Để khẩn trương đưa Nghị quyết Trung ương 6 (khóa 12) vào cuộc sống, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các tổ chức Đảng ngay sau hội nghị này tập trung làm tốt 5 việc.

 

Thứ nhất, tiếp tục tổ chức các hội nghị học tập, quán triệt nghị quyết ở địa phương, đơn vị cho các đối tượng chưa được dự, triển khai thực hiện các nghị quyết ở các cấp bảo đảm chất lượng và đúng thời gian quy định với lộ trình hết sức khẩn trương.

 

Thứ hai, bố trí thời gian hợp lý, thỏa đáng để thảo luận chương trình, kế hoạch hành động sát hợp tình hình cụ thể của địa phương, đơn vị, với những giải pháp cụ thể, lộ trình thích hợp, nguồn lực bảo đảm, trách nhiệm rõ ràng, nỗ lực và quyết tâm hành động để đưa nghị quyết  vào cuộc sống. Kiên quyết khắc phục hiện tượng sao chép chương trình, kế hoạch hành động của cấp trên, hoặc xây dựng một cách hình thức, chung chung.

 

Thứ ba, làm tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết với yêu cầu thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, đồng thuận của xã hội. Phát huy vai trò, trách nhiệm các cơ quan báo chí, xuất bản, thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên để đẩy mạnh tuyên truyền về cách làm mới, kinh nghiệm hay, mô hình tốt trong thực hiện các nghị quyết trung ương. Đấu tranh phê phán các quan điểm, luận điệu sai trái, không để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ.

 

Thứ tư, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 gắn bó mật thiết với việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa 12) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và Chỉ thị 05-CT/TƯ của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 

Thứ năm, tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết một cách thường xuyên. Cấp ủy Đảng, người đứng đầu các địa phương, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết, biểu dương, khen thưởng những đơn vị làm tốt, nhắc nhở, phê bình, xử lý theo quy định của Đảng đối với các đơn vị, cá nhân thực hiện không nghiêm túc, không hiệu quả.

 

Trước đó, đồng chí Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ quán triệt Nghị quyết số 20-NQ/TƯ “Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” và Nghị quyết số 21-NQ/TƯ “Về công tác dân số trong tình hình mới”. Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, mặc dù thời gian qua đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng hiện nay công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân còn nhiều hạn chế, bất cập. Chất lượng môi trường sống, làm việc, chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể, văn hoá tinh thần... ở nhiều nơi chưa được chú trọng, bảo đảm. Phó thủ tướng lấy số liệu điều tra của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam cho thấy người Việt còn nhiều hành vi, thói quen không có lợi cho sức khoẻ. Theo Tổ chức Y tế thế giới, hơn 52,7% số người trưởng thành ăn chưa đủ lượng rau và trái cây; người Việt Nam ăn mặn gấp đôi so với mức cần thiết; 43,8% số người dân uống bia rượu và hơn 22% uống ở mức nguy hại; tầm vóc người Việt tăng chậm, tỷ lệ thấp, còi lên tới 24,6% (trong khi mức chung của thế giới là gần 23%, tại khu vực Tây Thái Bình Dương chỉ còn 12,2%). Về chất lượng khám chữa bệnh, Việt Nam so với thế giới còn chênh lệch quá lớn, đặc biệt là vấn đề quá tải bệnh viện; chất lượng nguồn nhân lực, vấn đề quản lý thị trường dược, đấu thầu thuốc…Phó thủ tướng khẳng định, việc bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ là trách nhiệm của mỗi người dân, từng gia đình, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đòi hỏi sự tham gia tích cực, chủ động của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó ngành Y tế là lực lượng nòng cốt hàng đầu. Nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo của các bệnh viện và cơ sở y tế công lập trong việc tổ chức cung cấp dịch vụ y tế, bảo đảm các dịch vụ cơ bản cho đông đảo người dân, đồng thời khuyến khích cung cấp dịch vụ theo yêu cầu. Phát triển cân đối, đồng bộ giữa y tế phổ cập và y tế chuyên sâu, giữa dân y và quân y, gắn kết y học cổ truyền với y học hiện đại. Thực hiện phòng bệnh hơn chữa bệnh; y tế dự phòng là then chốt; y tế cơ sở thực sự là nền tảng…

 

Về Nghị quyết số 21-NQ/TƯ “Về công tác dân số trong tình hình mới, Phó thủ tướng khẳng định, chính sách hạn chế mức sinh của nước ta kéo dài, rộng khắp cả nước bắt đầu bộc lộ những hệ luỵ cần sớm được khắc phục. Do vậy, Trung ương đang chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển; chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh và nuôi dạy con tốt để duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước với quy mô dân số hợp lý; ưu tiên vận động sinh ít con hơn ở vùng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp…

.