Ngày làm việc thứ 15, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa 14
Thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2018
Cập nhật lúc22:51, Thứ Sáu, 10/11/2017 (GMT+7)

(HPĐT)- Ngày 10- 11, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội (KTXH) năm 2018; nghe báo cáo thẩm tra dự án Luật Đo đạc và bản đồ; dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt và thảo luận tổ về 2 dự án luật này.

 

Quốc hội thảo luận tại hội trường biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018.                                                                  Ảnh: TTXVN
Quốc hội thảo luận tại hội trường biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Ảnh: TTXVN

 

Phấn đấu GDP năm 2018 tăng 6,5- 6,7%


417/424 đại biểu Quốc hội nhất trí thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển KTXH năm 2018.


Theo đó, về lĩnh vực kinh tế, năm 2018 phấn đấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,5% - 6,7%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7% - 8%. Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%; tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33% - 34% GDP.


Về lĩnh vực xã hội, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giảm 1% - 1,3%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58% - 60%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo đạt 23% - 23,5%.


Đối với lĩnh vực y tế, phấn đấu số giường bệnh trên một vạn dân đạt 26 giường (không tính giường trạm y tế xã). Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 85,2%.


Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 88%. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,6%.



Tránh chồng chéo về nhiệm vụ đo đạc và bản đồ


Thảo luận tại tổ về dự án Luật Đo đạc và bản đồ, các đại biểu cơ bản nhất trí việc ban hành dự án luật nhằm thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác đo đạc và bản đồ, từng bước khắc phục tình trạng chồng chéo, lãng phí; góp phần thúc đẩy thương mại hóa thông tin, dữ liệu, sản phẩm, xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế. Các ý kiến cũng đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát các nội dung của dự án luật với các luật có liên quan, như: Luật Biên giới quốc gia, Luật Hàng không dân dụng, Bộ luật Hàng hải, Luật Biển Việt Nam, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đo lường, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật... để tránh chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất cao của hệ thống pháp luật.


Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) ghi nhận, sau nhiều vòng thẩm tra, Ban soạn thảo tiếp thu ý kiến, có nhiều sửa đổi. Đại biểu đồng tình với tên gọi Luật Đo đạc và bản đồ. Tuy nhiên, đề nghị mở rộng thêm về công nghệ đo đạc và bản đồ (trong luật vẫn chỉ quy định 2 loại là hàng không và thu nhận từ viễn thám, trong khi hiện nay trên thế giới có thêm nhiều công nghệ mới khác).  


Về thẩm quyền để thành lập các hệ thống bản đồ, theo đại biểu Bùi Thanh Tùng, xu thế chung trên thế giới là nhiều doanh nghiệp, tổ chức cũng xây dựng bản đồ và cung cấp dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì thế, Luật phải thiết kế sao cho vừa  bảo đảm quốc phòng- an ninh (QPAN) nhưng cũng phải để các tổ chức, cá nhân khai thác dữ liệu phục vụ phát triển KTXH. Đại biểu nêu ý kiến, trong luật vẫn có sự chồng chéo về nhiệm vụ như điều 25, cả Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông- Vận tải (GTVT) cùng làm… Đại biểu đề nghị có những quy định phù hợp với đặc thù về bản đồ địa hình đáy biển.


Đại biểu Nguyễn Trọng Bình (Hải Phòng) cho rằng, tại điều 4, đề cập việc thu phí trong khi nguyên tắc cơ bản trong đo đạc bản đồ phục vụ QPAN, giám sát Tài nguyên- Môi trường (TNMT), cứu hộ cứu hạn, kể cả nâng cao dân trí là phải cung cấp miễn phí… Nếu dự thảo quy định áp dụng theo Luật Phí và lệ phí thì vô hình trung Nhà nước bỏ tiền ra để có dữ liệu xong lại bỏ tiếp tiền để sử dụng… Đại biểu đề nghị cần nghiên cứu lại những hoạt động sử dụng ngân sách Nhà nước được miễn phí khi sử dụng dữ liệu bản đồ.


Tại điều 12 khoản 4, liên quan thu nhận dữ liệu ảnh hàng không, đại biểu Nguyễn Trọng Bình đề nghị có sự thống nhất của Bộ Quốc phòng chứ không chỉ Bộ TNMT, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của địa phương và bảo vệ bí mật QPAN. Dự thảo luật có sự trùng lặp nhiệm vụ giữa các Bộ, cụ thể là giữa Bộ TNMT, Bộ Quốc phòng… trong khi hoạt động đo đạc khảo sát bản đồ rất tốn kém. Sản phẩm sau khi làm ra cơ bản giống nhau trong khi bản đồ của Bộ Quốc phòng  có tiêu chuẩn cao hơn, sau khi loại bỏ các dữ liệu liên quan tới quốc phòng có thể bàn giao Bộ TNMT để sử dụng đa ngành.


Một vấn đề khác là dự thảo luật giao Bộ TNMT cập nhật cơ sở dữ liệu và bản đồ địa hình đáy biển. Trong khi phần giải thích từ ngữ chưa rõ ràng về bản đồ địa hình đáy biển. Theo đại biểu, về bản chất vẫn là địa hình biển, hiện có rồi, Hải quân vẫn xuất bản. Còn nếu là hải đồ thì trùng lắp với Hải quân. Ở các nước, liên quan tới đo đạc đáy biển hầu hết là do Hải quân đảm nhiệm, bởi còn kết hợp nhiều nhiệm vụ khác. Dữ liệu các độ sâu, chủ quyền đo đạc là của ta, cập nhật tới đâu là bí mật, nên cần thuộc về nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng.



Làm rõ cơ cấu tổ chức đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt


Chiều 10-11, tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (HCKTĐB)  được trình Quốc hội.


Báo cáo thẩm tra dự án do Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định trình bày tại phiên họp tập trung làm rõ 2 phương án tổ chức chính quyền địa phương của đơn vị HCKTĐB được Chính phủ xin ý kiến Quốc hội.


Ở phương án 1, chính quyền địa phương đơn vị HCKTĐB là thiết chế Trưởng đơn vị HCKTĐB cùng các cơ quan chuyên môn trực thuộc và Trưởng Khu hành chính.


Ở phương án 2, sẽ tổ chức một cấp chính quyền địa phương ở đơn vị HCKTĐB gồm có HĐND và UBND.


Các ý kiến tán thành phương án 1, cho rằng phương án này thể hiện tính “đặc biệt” về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương tại đơn vị HCKTĐB, đáp ứng yêu cầu thử nghiệm đổi mới nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy như nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa 12. Theo ý kiến này, chương 9 của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương quy định có độ “mở” để tạo không gian cho cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương khi cần thiết. Vì vậy, quy định như dự thảo luật là phù hợp độ “mở” của Hiến pháp. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ hơn cơ chế thực hiện giám sát đối với Trưởng đơn vị HCKTĐB bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, tránh tình trạng lạm dụng quyền lực.


Các ý kiến tán thành phương án 2 cho rằng phương án này bảo đảm phù hợp quy định cụ thể của Hiến pháp (Điều 110, Điều 111) và thống nhất Luật Tổ chức chính quyền địa phương (các điều 2, 4, 74 và 75); thể hiện tính nhất quán về tổ chức của hệ thống bộ máy chính quyền địa phương, bảo đảm nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; và tính đại diện, quyền giám sát của nhân dân ở các đơn vị HCKTĐB. Tuy nhiên, các ý kiến tán thành phương án này cũng đề nghị thiết kế lại tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND và Chủ tịch UBND đơn vị HCKTĐB để thể hiện rõ hơn tính đặc thù, cải cách, đột phá.


“Do còn ý kiến khác nhau như vậy, Ủy ban Pháp luật báo cáo Quốc hội xem xét, cho ý kiến về vấn đề này”-  Chủ nhiệmỦy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh.


Một điểm đáng lưu ý khác là dự thảo luật loại bỏ 135 trên tổng số 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư. Ủy ban Pháp luật nhận thấy việc thu hẹp phạm vi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng tại đơn vị HCKTĐB là cần thiết. Tuy nhiên, đối với một số ngành, nghề cụ thể còn ý kiến khác nhau của các bộ, ngành, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc kỹ để bảo đảm chặt chẽ các yêu cầu về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, cần có các giải pháp thay thế thích hợp để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.


Cơ quan thẩm tra cũng đưa ra khuyến nghị thận trọng với quy định không áp dụng điều kiện đầu tư theo quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế có liên quan đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong một số trường hợp, do có thể tiềm ẩn những bất lợi, rủi ro đối với trật tự, an toàn xã hội và môi trường kinh doanh của các địa bàn ngoài đơn vị HCKTĐB.


Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng thảo luận tổ về dự án luật này với các đoàn Vĩnh Phúc, Bình Phước, Thừa Thiên- Huế. Đồng chí Nguyễn Thị Nghĩa, Phó bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng chủ trì thảo luận.


Đại biểu Đỗ Văn Bình (Hải Phòng) nhất trí cao về sự cần thiết ban hành luật và cho rằng, đây là yếu tố quan trọng  tạo động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, cần có cơ cấu tổ chức đặc biệt. Về phạm vi điều chỉnh, đại biểu đề nghị  dự thảo luật quy định rõ cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương ở mô hình mới, sau đó mới tới quy hoạch và chính sách phát triển KTXH. Về cơ cấu tổ chức, đại biểu ưu tiên chọn phương án 1 của Chính phủ vì có tính đột phá. Đại biểu Đỗ Văn Bình góp ý thêm, các quy định về bảo đảm an sinh xã hội trong dự án luật còn mờ nhạt. Nhiệm vụ của Trưởng đặc khu về cải thiện đời sống nhân dân cũng chưa rõ.


Đại biểu Lã Thanh Tân (Hải Phòng) cũng nhất trí phương án 1. Tuy nhiên, cần làm rõ mô hình tổ chức của chính quyền địa phương; tên gọi và phạm vi điều chỉnh của luật cũng chưa thống nhất. Khái niệm đơn vị hành chính đặc biệt được nhắc đi nhắc lại nhiều, tên gọi dài, theo đại biểu nên rút gọn,  gọi chung là đặc khu sẽ súc tích hơn. Về khu hành chính trực thuộc trong luật có quy định nhưng cấp độ tương đương đơn vị nào cũng chưa thấy quy định rõ. Đặc biệt, theo đại biểu Lã Thanh Tân, đây là mô hình mới nhưng chưa có nguyên tắc hoạt động để bảo đảm tính lập hiến, lập pháp. Các mối quan hệ giữa trưởng đơn vị hành chính với UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh với các Bộ, ngành cũng chưa rõ. Đại biểu đề nghị nên ghi rõ  Phó trưởng khu số lượng là 2 người. Ngoài ra, cũng cần quy định rõ cấp nào có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó trưởng khu…

.