Ứng dụng quy trình VietGAP trong nuôi trồng thủy sản
Tạo điều kiện mở rộng diện tích, vật nuôi
Cập nhật lúc21:58, Thứ Năm, 09/02/2017 (GMT+7)

Ứng dụng quy trình VietGAp trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm, mà còn góp phần kiểm soát tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ cho người nuôi… Hiệu quả tuy đã được kiểm chứng từ thực tế, nhưng hiện diện tích NTTS ứng dụng quy trình  này tại Hải Phòng chưa được chú trọng mở rộng.

 

 

Hiệu quả cao, nhưng diện tích áp dụng còn ít

 

Áp dụng VietGAP trong sản xuất thuỷ sản nói riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung, đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng, đem lại  nhiều lợi nhuận cho người nuôi thủy sản hơn cách sản xuất truyền thống.

 

Theo Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư (KNKN) Hải Phòng Lê Trung Kiên; từ năm 2014 đến nay, Trung tâm hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ các hộ NTTS áp dụng quy trình VietGAP nuôi tôm thẻ chân trắng cho hiệu quả kinh tế cao hơn 1,5 lần so với mô hình nuôi bình thường. Nếu tổng chi phí trên 1 ha nuôi tôm thông thường là 925 triệu đồng, tỷ lệ tôm sống 60%, năng suất 8,6 tấn/ha, tổng thu 1,4 tỷ đồng, lãi thuần là 500 triệu đồng, thì nuôi tôm thẻ chân trắng theo VietGAP tổng chi phí cao hơn (1,1 tỷ đồng), nhưng cho năng suất hơn 11 tấn/ ha, tỷ lệ tôm sống gần 70%, tổng thu gần 2 tỷ đồng, lãi thuần 860 triệu đồng (hơn nuôi tôm thông thường 360 triệu đồng).

 

Một số vùng nuôi trồng thủy sản ở quận Đồ Sơn được xây dựng hạ tầng đáp ứng quy trình VietGap.
    Một số vùng nuôi trồng thủy sản ở quận Đồ Sơn được xây dựng hạ tầng đáp ứng quy trình VietGap.

 

Theo kết quả khảo sát của ngành Nông nghiệp-PTNT, hiện diện tích NTTS áp dụng quy trình VietGAP trên địa bàn Hải Phòng tuy đạt hiệu quả kinh tế cao, nhưng số hộ áp dụng còn ít, đối tượng nuôi chủ yếu là cá rô phi đơn tính, tôm sú, tôm thẻ chân trắng. Báo cáo của Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư (KNKN) Hải Phòng cho thấy: diện tích nuôi trồng thuỷ sản của Hải Phòng hiện là 45.000 ha, trong đó nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là 13.000 ha chiếm 30%; NTTS nước lợ, mặn là 32.000 ha, chiếm 70%. Tuy nhiên diện tích NTTS áp dụng  theo quy trình VietGAP mới đạt 424 ha, trong đó mới có 117 ha được cấp giấy chứng nhận VietGAP.

 

Ông Vũ Văn Thoán, hộ nuôi tôm ở xã Tiên Hưng (Tiên Lãng) cho biết, chi phí nuôi tôm theo quy phạm VietGAP tăng so với nuôi thông thường từ 20 - 30%, nhưng do người NTTS lưng vốn hạn chế, nên không dám mở rộng diện tích nuôi theo VietGAP, chỉ dè dặt với một vài ao nuôi nhỏ, lẻ. Hơn nữa, bà con nông dân quen kiểu sản xuất truyền thống, ngại nuôi theo VietGAP vì phải tuân thủ quy trình quy phạm như phải lập hồ sơ ghi diễn biến quá trình nuôi và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí, tiêu chuẩn quy định. Đây là những rào cản cần sớm khắc phục để mở rộng diện tích NTTS nói chung và nuôi tôm thẻ chân trắng theo VietGAP.

 

 

Sớm tháo gỡ vướng mắc để hỗ trợ người sản xuất

 

Trưởng Phòng Thủy sản (Sở Nông nghiệp – PTNT) Võ Thị Hồng Phương cho rằng: Hải Phòng có diện tích NTTS lớn, nhưng hạ tầng các vùng nuôi chưa đáp ứng điều kiện áp dụng  quy trình VietGAP. Việc chưa có hệ thống thủy lợi riêng cho các vùng nuôi tập trung, nguồn nước thường bị ô nhiễm do hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và nước thải sinh hoạt cũng hạn chế việc ứng dụng VietGAP trong sản xuất.

 

Tại cơ sở nuôi lớn, các đầm nuôi được bố trí nuôi quay vòng gối nhau, vì vậy thời gian cho tôm thu hoạch kéo dài, giá bán cao, tránh bị ép giá khi thu hoạch đồng loạt nhiều đầm nuôi, đồng thời giải quyết việc thiếu con giống chất lượng tốt do cầu vượt quá cung. Bên cạnh đó, khu vực Hải Phòng chịu ảnh hưởng nhiệt độ, nắng nóng, mưa nhiều, trong khi thiếu cơ sở cung cấp con giống bảo đảm cả số lượng và chất lượng; việc thiếu quy hoạch chi tiết NTTS khiến việc phát triển các vùng nuôi tập trung khó khăn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi còn nhỏ lẻ, dễ bị phá vỡ bởi quy hoạch của các ngành khác. Đặc biệt, phần lớn người nuôi chưa tiếp cận được quy trình kỹ thuật nuôi bền vững, bảo đảm môi trường, hạn chế dịch bệnh, tỷ lệ tôm sống cao… chủ yếu vẫn theo tập quán làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, chưa mạnh dạn đầu tư. Khảo sát tại các vùng nuôi cho thấy, hình thức NTTS của người dân phần lớn tự phát, quy mô nhỏ, điều kiện vốn hạn chế nên chưa mạnh dạn đầu tư, nhất là nuôi theo quy trình VietGAP. Bà con chủ yếu trông chờ vào sự hỗ trợ của cơ quan chức năng cho một số mô hình sản xuất thử nghiệm.

 

Theo Phó giám đốc Trung tâm KNKN Hải Phòng Lê Trung Kiên, cần đơn giản hóa các tiêu chí, thủ tục tiếp cận quy trình VietGAP, tạo tâm lý gần gũi, thân thiện hơn với người NTTS trong áp dụng VietGAP Khi ứng dụng VietGAP, sản phẩm của người nuôi cần được cấp giấy chứng nhận VietGAP, đủ điều kiện để sản phẩm tiêu thụ tốt trên thị trường. Khuyến khích các hộ NTTS nhỏ, lẻ, liên kết hình thành vùng nuôi tập trung, tận dụng hạ tầng kỹ thuật nuôi cho cả vùng (về thủy lợi, giao thông…) nhằm giảm chi phí, thuận lợi cho việc chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP. Các địa phương sớm tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết với doanh nghiệp trong khâu tiêu thụ, chế biến sản phẩm nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho người NTTS khi áp dụng VietGAP vào sản xuất.

Bài và ảnh: Hải An

.