Ra khơi mùa biển động
Cập nhật lúc16:48, Thứ Sáu, 06/01/2017 (GMT+7)

Vụ cá Bắc bắt đầu từ tháng 10 âm lịch, kéo dài đến tháng 3 năm sau, được xem là “mùa vàng” đối với ngư dân. Dù biển hay động, nhưng bù lại, thường xuất hiện các đàn cá nổi với số lượng lớn. Một lần ra khơi cùng ngư dân Đồ Sơn trong vụ cá Bắc, dù thấy “biển bạc” dồi dào, nhưng trong lòng lại dấy lên những suy nghĩ bởi cách con người hành xử với biển…

Lúc hạ lưới giã xuống biển đã hơn 22 giờ.
Lúc hạ lưới giã xuống biển đã hơn 22 giờ.

Mùa đi biển của ngư dân nghèo

 

Gần tới giờ ra khơi nhưng anh Minh, ngư dân ở phường Hợp Đức (quận Đồ Sơn) vẫn nha nhẩn đun nước, hãm trà rồi khề khà với những câu chuyện mãi đẩu, mãi đâu. Thấy vẻ sốt ruột hiện rõ trên gương mặt khách, anh chậm rãi giải thích, khác với đánh bắt xa bờ, những người làm nghề đánh lưới giã ven bờ, giờ ra khơi phụ thuộc vào con nước. Nước lên ngập các bãi bồi, từng đàn cá rủ nhau bơi đến tìm ăn màu đất hoặc tôm tép nhỏ, khi ấy chỉ cần giăng lưới, nổ máy chạy ngang, chạy dọc. Theo lời kể của anh, sự hồi hộp, háo hức về “biển bạc” lên tới cao độ. Bao nỗi lo về sóng gió, giá rét tan biến.

 

Đúng 21 giờ, sau ấm chè đặc xoẳn, anh Minh kéo neo, nổ máy đưa tàu rời bến Thủy Giang (phường Hải Thành, quận Dương Kinh). Con tàu gỗ nhỏ công suất chưa tới 40 CV sau hồi gằn nước băng băng thẳng hướng đền Bà Đế. Màn đêm lễnh loãng khiến mặt biển vốn bao la, càng thêm hun hút. Những đợt gió thi nhau xối thẳng vào mặt. Lạnh. Cóng. Lẻ loi. Thi thoảng thấy bóng đèn lếnh loáng mặt nước của bạn thuyền phía xa xa, ấm lòng đôi chút.

 

Trong tiếng máy nổ phành phạch, đưa đôi tay lên hà hơi cho ấm trong khi dỏng đôi tai lên nghe chuyện đi biển. Theo lời anh Minh, có một thực tế lạ đời, mỗi khi biển động, trong khi thuyền to, tàu lớn về bến neo đậu, tránh trú, thì ngư dân làm nghề lưới giã với tàu bé, máy yếu lại ra khơi. Phần vì thời điểm này nhiều tôm cá hơn, nhưng cái chính “bụng đói đầu gối phải bò”. Họ “liều lĩnh” cũng bởi miếng cơm, manh áo. Cả đêm lăn lộn trên biển, hôm nào “trúng” kiếm được hơn 1 triệu đồng. Trừ tiền dầu, anh và bạn thuyền chia nhau mỗi người cũng được dăm ba trăm nghìn. Còn rủi, va phải cọc rách lưới, thì ra về tay trắng. Biết là nghề đi biển chẳng khác nào đánh bạc, nhưng những ngư dân như anh Minh vẫn cắn răng ra khơi bởi nặng lòng gắn bó. Tuy nhiên, để bảo đảm cuộc sống, họ liên tục xoay xở. Mùa don dắt, sắm bộ cào kiếm thêm. Khi biển đỏng đảnh hay tôm cá không về, nhiều người bỏ biển lên đất đi làm phụ hồ. Chăm chỉ, ngày cũng kiếm thêm trên dưới 200 nghìn đồng lo sinh hoạt gia đình, con cái.

 

Lấp lánh biển bạc

 

Sau hơn 1 tiếng kể từ lúc rời bến, chúng tôi đến vùng khai khác. Buộc lái giảm ga cho tàu chạy rề rà, anh Minh cùng bạn thuyền tranh thủ hạ lưới giã. Đây là dụng cụ dùng sức kéo hoặc đẩy của tàu, thuyền để bắt tôm, cá. Lưới được khâu thành túi hình nón thon dần về phía sau. Phần trước là cánh lưới mở rộng dùng để lùa tôm cá vào chiếc đụt ở phía sau. Tránh phần đụt đầy quá, ngư dân buộc một sợi dây rồi canh chừng, sau một quãng thời gian nhất định thì kéo lên đổ ra sàn tàu và phân loại tôm, cá vào những chiếc thùng xốp có chứa sẵn đá lạnh.

Anh Minh tra cứu lịch thủy triều.
Anh Minh tra cứu lịch thủy triều.

Sau khi hạ giã, anh Minh kéo ga cho tàu qua lại khu vực đánh bắt. Không la bàn, chẳng đèn dẫn đường, việc lái tàu chủ yếu dựa theo kinh nghiệm. Tuy hiểu biết về lòng biển cũng như địa thế chung quanh, nhưng khó tránh khỏi việc lưới va phải cọc. Nhẹ thì khâu buộc một vài chỗ có thể đi đánh bắt tiếp. Còn nặng, thu lưới quay ngược tàu về bến chấp nhận một buổi làm không công, lỗ tiền dầu mà còn phải chi thêm tiền mua lưới về sửa chữa. “Tuy nhiên, việc này cũng hiếm khi xảy ra. Nếu không, chúng tôi chỉ còn nước bỏ biển”, anh Minh chia sẻ trong khi ghìm tay lái ngược gió hướng về nơi dự đoán có luồng cá.

 

Sau gần 1 tiếng kể từ khi hạ giã, anh Minh bảo bạn thuyền kéo đụt. Sau phút hồi hộp, mọi người òa lên sung sướng khi phần túi lưới màu xanh nặng trĩu lấp lánh ánh bạc được đưa lên khỏi mặt nước. Nút thắt được cởi bỏ, mẻ cá chừng dăm cân đua nhau tràn ra sàn tàu. Cá lớn, cá nhỏ, cả những con tôm, tép cùng bầy cáy nhỏ xíu nhảy, giãy, bò loạn xạ trong vô vọng hòng trở lại biển. Cậu em vợ anh Minh, cũng là bạn thuyền, nhanh tay buộc lại phần đụt thả lại biển rồi phân loại. Có khá nhiều loại, nhưng chủ yếu là cá kìm trắng, cá đối và cá mai. Tuy nhiên, đây là những loại cá có giá trị kinh tế không cao. Cá đối, cá mai giao cho thương lái tại bến chỉ từ 10-20 nghìn đồng/kg. Cá kìm trắng có cao hơn (trên dưới 40 nghìn đồng/kg), nhưng không nhiều.

 

Sau hơn 6 tiếng lênh đênh trên biển, 3 thùng xốp xếp trên sàn tàu được lèn chặt những cá là cá, anh Minh cho tàu quay mũi về bờ rồi lựa chỗ yên sóng, lặng gió thả neo. Chưa đến 4 giờ sáng, bữa cơm nóng hổi trên tàu có món súp cá mai cùng cá kìm nấu canh chua chòng chành theo nhịp sóng nước mùa biển động chưa bao giờ ngon miệng đến thế…

 

Nỗi niềm của biển

 

Trong chuyến ra khơi ngắn ngủi mùa biển động, chứng kiến biển lấp lánh cá bạc, trong tôi buồn vui lẫn lộn về cách con người hành xử với biển. Vui nhất chứng kiến cảnh bạn thuyền của anh Minh khi kéo đụt lên, việc đầu tiên làm thay vì lựa những con to bỏ vào thùng xốp, lại nhặt con nhỏ thả trở lại biển. Trước ánh mắt ngạc nhiên của mọi người, cậu nhẹ nhàng: “Thả để chúng lớn lần sau mình còn cơ hội bắt!”. Câu nói tưởng chừng đơn giản, nhưng “bài toán” mà nhiều năm qua chưa tìm được lời giản. Không những biển, mà dưới sông, trong đồng… nguồn lợi thủy, hải sản đang bị con người dùng nhiều hình thức khai thác mang tính hủy diệt, tận diệt mà ngày càng bị cạn kiệt.

 

Buồn nhất là lúc tàu qua khu vực cửa sông Lạch Tray, đoạn ngoài đê Cầm Cập, anh Minh chỉ vào ánh đèn loang loáng phía xa xa rồi buồn rầu: “Họ đánh bắt bằng xung điện đấy. Trước đây, chỉ cần nổ máy chừng 10 phút là có thể hạ giã kiếm cơm, nay tôm cá ít hẳn. Vì thế, cứ phải đi xa, xa mãi. Không chỉ đánh lưới giã bằng xung điện, có người còn dùng cả thuốc nổ. Bên cạnh đó, hệ thống lờ bát quái cũng được chăng ngang dọc theo kiểu “không cho chúng nó thoát”. Tình trạng này cứ tiếp diễn, chẳng mấy chốc biển sẽ chẳng còn gì. Không biết mai sau con cháu chúng tôi sẽ làm nghề gì khi không ra khơi được nữa?”. Vẻ mặt ngậm ngùi của anh chan chứa nỗi niềm của biển!

 

 

Thái Phan

 

.