Doanh nghiệp Hải Phòng
Cơ hội và thách thức từ các Hiệp định thương mại
Cập nhật lúc11:02, Thứ Sáu, 19/01/2018 (GMT+7)

Thực hiện chủ trương của Đảng, những năm qua, Việt Nam tích cực triển khai hội nhập kinh tế quốc tế trên tất cả phương diện song phương, khu vực và đa phương. Hội nhập mở ra nhiều cơ hội lớn, nhưng kèm theo đó là những thách thức không nhỏ. Trong đó, tác động đầu tiên và trước hết chính là các doanh nghiệp Hải Phòng.

 

Nhiều sức ép

 

Tham gia sân chơi quốc tế với những luật lệ thương mại toàn cầu, doanh nghiệp Việt thực sự phải mở rộng tầm nhìn và không thể bó hẹp trong phạm vi địa phương, quốc gia như trước. Lãnh đạo nhiều doanh nghiệp của Hải Phòng đều cho rằng, các Hiệp định thương mại luôn bao gồm thách thức và cơ hội, bên cạnh niềm vui là những nỗi lo trước tương lai cạnh tranh toàn cầu. Ở đó, doanh nghiệp nào đủ tiềm lực sẽ thắng. Tác động lớn nhất là khi hàng rào thuế quan xuất nhập khẩu bị xóa bỏ hoặc hạ thấp, thị trường sẽ rộng mở. Các nhà nhập khẩu, các nhãn hàng lớn trên thế giới ồ ạt đưa hàng vào Việt Nam, trong khi đó, hàng Việt Nam có thể trụ vững trên thị trường nước ngoài là cả quá trình vô cùng cam go. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp Hải Phòng nói riêng luôn phải đối mặt với sức ép không nhỏ, nhất là sức ép phải vượt qua chính mình. Lãnh đạo Công ty CP May Hai Hải Phòng bày tỏ: “Điều doanh nghiệp luôn băn khoăn khi các Hiệp định thương mại có hiệu lực là phía đối tác được hoạt động trên mặt sân trơn tru, còn chúng ta phải hoạt động trên mặt sân đầy rẫy những sỏi đá. Vật cản lớn nhất là vấn đề chính sách, nhỏ hơn là những câu chuyện hằng ngày hằng giờ diễn ra chung quanh doanh nghiệp. Thêm vào đó, doanh nghiệp còn nỗi lo lớn về việc tăng lương tối thiểu hằng năm. Nếu tốc độ tăng lương tối thiểu cứ duy trì như những năm gần đây, doanh nghiệp càng khó khăn hơn khi các Hiệp định thương mại có hiệu lực”.

 

Sản phẩm phân bón của Công ty CP DAP VINACHEM gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập lậu có giá thành rẻ hơn.	    Ảnh: Duy Lân

Sản phẩm phân bón của Công ty CP DAP VINACHEM gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập lậu có giá thành rẻ hơn.

Ảnh: Duy Lân

 

Tự tin về khả năng hội nhập của doanh nghiệp trong nhiều năm qua, nhưng ông Nguyễn Mộng Lân, Tổng giám đốc Công ty TNHH Vico vẫn cho rằng, các chính sách và nhất là hành lang pháp lý phải bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp Việt Nam khi các Hiệp định Thương mại tự do có hiệu lực chưa theo kịp tiến trình hội nhập. Trước làn sóng hàng nhập ngoại ồ ạt với mức giá rẻ hơn, thậm chí bán phá  giá, trong đó đáng lo ngại là hàng nhập lậu thì doanh nghiệp Việt Nam làm ăn chân chính khó lòng trụ vững, chứ chưa nói tới chuyện “đem chuông đi đấm xứ người”. Cùng chung nỗi lo, ông Nguyễn Văn Sinh, Tổng giám đốc Công ty CP DAP- Vinachem cho biết, từ mấy năm qua, công ty phải loay hoay đơn thương chống chọi với phân bón DAP nhập lậu giá rẻ tràn ngập trên thị trường. Vì thế, nhà máy xây dựng với tổng vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng không hoạt động hết công suất, sức tiêu thụ kém dần vì không cạnh tranh nổi về giá đối với hàng ngoại nhập lậu, dẫn tới thua lỗ. Ông Nguyễn Văn Sinh thẳng thắn: chúng tôi không ngại cạnh tranh lành mạnh. Nếu hàng nhập ngoại được tính đầy đủ các yếu tố cấu thành giá, DAP Đình Vũ sẵn sàng đối chọi. Nhưng khi hàng lậu tràn lan không được ngăn chặn thì đành chịu thua.

 

Vì thế, theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, khi hội nhập, với doanh nghiệp, đó là sức ép cạnh tranh và sức ép thay đổi chính mình để vươn lên nắm bắt được các cơ hội. Với các nhà quản lý, đó là sức ép thay đổi tư duy quản lý, tư duy làm chính sách, minh bạch hóa, tăng cường tương tác với khu vực doanh nghiệp để thực hiện tốt chức năng của một nhà nước kiến tạo trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập ngày càng sâu với khu vực và thế giới.

 

Tận dụng cơ hội

 

Tuy lường trước nhiều sức ép từ quá trình hội nhập nhưng cũng phải thẳng thắn thừa nhận, các cơ hội từ Hiệp định thương mại rất lớn. Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, về song phương, Việt Nam ký một số hiệp định quan trọng như Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản. Về khu vực, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN và sau đó là khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Sau đó, cùng ASEAN, Việt Nam tham gia các thỏa thuận thương mại tự do giữa ASEAN với Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a và Niu Di-lân… Về đa phương, Việt Nam trở thành thành viên của WTO từ năm 2007, sau hơn 11 năm đàm phán.  Để tiếp tục hiện thực hóa chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, Việt Nam tham gia đàm phán một số thỏa thuận thương mại tự do (FTA) quan trọng. Nổi bật là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trước đây và nay là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP);  FTA với Liên minh châu Âu và FTA với Liên minh kinh tế Á Âu. Các Hiệp định thương mại tự do có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta, giúp mở ra các cơ hội mới cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và FTA với Liên minh châu Âu cũng giúp Việt Nam có cơ hội tiếp tục hoàn thiện về thể chế, trong đó có thể chế kinh tế thị trường, một trong 3 đột phá chiến lược Đảng ta đã xác định; hỗ trợ tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của Việt Nam, đồng thời giúp Việt Nam tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp.

 

Cũng theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, thời gian vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đang rất ấn tượng. Các doanh nghiệp Việt Nam rất đáng khen ngợi trong việc nắm bắt cơ hội trên thị trường, thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng rất tốt. Khi cơ hội mở ra thông qua các Hiệp định thương mại tự do, Bộ Công Thương tin tưởng các doanh nghiệp nắm bắt được nhiều cơ hội, nhưng để nắm bắt toàn diện, đầy đủ cần sự chủ động hơn nữa của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp không có thời gian thì nhờ các cơ quan chức năng khác nghiên cứu hoặc nhờ vào Hiệp hội, Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam đặt hàng các Viện nghiên cứu để giúp doanh nghiệp nhận diện rõ  cơ hội cũng như thách thức,  có thể nắm bắt được toàn diện các Hiệp định và áp dụng, phát huy tốt. Bộ Công Thương cũng khuyến cáo: quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, quy mô của các hiệp định, kết hợp với nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp, các nhà quản lý khiến không thể làm rõ mọi vấn đề chỉ trong thời gian ngắn. Điều quan trọng là các nhà quản lý, các doanh nghiệp cần tiếp tục dành thời gian để tự nghiên cứu sâu hơn những vấn đề, những lĩnh vực tác động nhiều nhất tới công việc cũng như hoạt động kinh doanh của mình. Mọi chuyện đều không khó, miễn là doanh nghiệp thực sự quan tâm và quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, biến thách thức thành cơ hội phát triển và như thế, nhất định sẽ mang lại thành công.

 

Thanh Hiệp

 

.