Dòng sông trôi mải miết
Cập nhật lúc17:11, Thứ Bảy, 03/02/2018 (GMT+7)

Một cuộc gặp tình cờ giữa hai người bạn cũ. Nhưng mở ra sau đó là mối băn khoăn về tình trạng mất vệ sinh môi trường của quê hương. Trăn trở của những người con muốn làm trong lành lại dòng sông quê, mong muốn có được nhà máy xử lý rác thải riêng để cuộc sống và sinh hoạt của người dân bớt đi những nỗi lo lắng. Nhưng đó chỉ là những nỗi lo của vài người. Còn nhiều người khác vẫn đang mải miết quan tâm đến những vấn đề khác thay vì dành một chút trách nhiệm với quê hương. Truyện ngắn “Dòng sông trôi mải miết” là nét khác trong văn phong và mảng đề tài quen thuộc Lê Hoài Nam thường khai thác. Cảm giác như, đây cũng là nỗi trăn trở của tác giả về nghĩa cử và trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống của làng quê trước những mối đe dọa ô nhiễm hằng ngày.

 

HPCT

 

Minh họa: Đặng Tiến
Minh họa: Đặng Tiến

 

Ông Kiêm bước đi chầm chậm trên triền đê. Phía tay phải ông là dòng sông Vạm đang chảy về phía hạ nguồn. Trên mặt nước màu chì có nhiều mảng bèo tây cùng rác trôi bập bềnh theo dòng chảy. Mùi tanh hôi từ dòng sông bốc lên khiến ông Kiêm nhăn mũi khó chịu. Phía cánh đồng làng Ngò có những nông dân đang cào cỏ, bón phân, phun thuốc trừ sâu trên các thửa ruộng lúa mùa vào thì con gái. Ông Kiêm nhìn thấy mấy chị sau khi mở những chai thuốc trừ sâu Organophosphates, Carbamates, Pyrethroids… cho vào bình phun rồi tiện tay ném luôn xác chai lọ xuống dòng nước. Dòng kênh nối với sông Vạm bằng một cái cống. Lúc này cánh cống chưa mở, chai lọ, rác theo làn gió dạt đến trước cửa cống bộn lên thành đụn lớn. Ông Kiêm chợt bắt gặp người đàn bà, đầu đội nón, một tay cầm cái vợt lưới, một tay xách cái bao tải. Bà bước chầm chậm bên bờ kênh đi về phía cửa cống. Gặp cái chai hay cái túi nilong, bà lại dùng vợt xúc lên đổ vào bao.

- Chào chị - Kiêm lên tiếng.

Người đàn bà đứng thẳng người lên, nâng cao vành nón, nhìn Kiêm đáp:

- Vâng, chào ông - rồi nhận ra người quen, bà reo lên - Ôi tưởng ai hóa ra anh Kiêm à?

- Tôi cũng đã nhận ra bạn học cũ rồi - Kiêm nói - Lương, cuộc sống của chị thế nào?

- Thì anh nhìn thấy rồi đấy. Tôi đi   nhặt rác.

- Người ta trả công cho Lương nhiều không?

- Quê mình nghèo, tiền đâu mà trả công cho người nhặt rác! Mình ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng ấy mà! Hôm nay sao Kiêm không về bằng ô tô mà lại đi bộ?

- Đúng là những lần trước mình về, bằng ô tô. Ô tô của con trai mình.

- Hình như những lần trước Kiêm, nhưng không vào làng đúng không?

- Mình thường về vào dịp thanh minh và dịp tất niên. Đúng là mình chỉ xuống nghĩa địa tảo mộ cho các cụ.

Kiêm kể rằng, năm nay ông chuẩn bị nhận quyết định nghỉ hưu, nhưng có đề tài khoa học cấp nhà nước do ông làm chủ còn dang dở nên Viện cho phép ông ở lại thêm vài tháng để làm cho xong. Cái đề tài ấy có tên “Môi trường sống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay”. Nghe tin xã Sa Phú mấy năm qua trăn trở với lĩnh vực này, Kiêm quyết định chọn quê làm môi trường nghiên cứu, khảo sát.

- Thế thì anh chọn đúng nơi rồi đấy - Lương nói.

Hai người ngồi xuống bệ xi măng của thành cống. Nhìn sang người bạn học, Kiêm nhận thấy Lương lam lũ, ít hơn Kiêm một tuổi nhưng trông già hơn ông, chỉ còn chút nhan sắc nền nã của cô gái quê xưa kia là chưa mất hẳn.

 

Thủa ấu thơ Kiêm và Lương rất thân nhau. Hồi ấy cả làng Ngò chỉ có hai người biết chữ nho là ông Thiện, bố Lương và ông Kiệm bố Kiêm. Hai ông đều là học trò của cụ đồ Nhẫn ở bên kia sông Vạm. Học xong Tam Tự Kinh và Ngũ Thiên Tự cũng vừa lúc miền Bắc được giải phóng khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp. Phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kéo ông Kiệm, bố của Kiêm vào guồng. Xếp toàn bộ sách chữ nho vào cái rương gỗ khóa kín lại để trên gác làm kỷ niệm, ông Kiệm trở thành người giáo viên bình dân học vụ, dạy chữ quốc ngữ cho dân làng Ngò. Ông Thiện, bố Lương không chịu nhập cuộc, vẫn mở lớp dạy chữ nho cho những ai còn thích học. Những năm đầu còn có dăm bảy người theo, về sau cứ thưa dần rồi vắng hẳn. Bố Lương xoay ra viết thư pháp. Mỗi dịp tết đến, bố Lương kê cái bàn gỗ nhỏ bên cổng chợ huyện, đặt xấp giấy dó lên, bên cạnh là nghiên mực và cái bút lông. Ai xin chữ gì, bố Lương viết chữ ấy. Hồi đó người ta có thói quen ra chợ mua chữ của ông đồ về treo lên tường chơi tết. Chữ của bố Lương rất đẹp, ai cũng thích chơi. Nhận chữ xong, ai có tiền đưa cho bố Lương mấy hào hay mấy xu ông cũng không mè nheo gì. Bố Lương và bố Kiêm đều thấm nhuần đạo lý “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…” trong đạo thánh hiền. Ông Kiệm, bố Kiêm làm cán bộ hợp tác xã vào cái thời đói kém thế, nhưng ông không tham ô của tập thể hạt thóc, củ khoai. Có đêm Kiêm và người anh trai đang đơm đó ngoài đồng, ông Kiệm đi kiểm tra, thấy cái đó tôm của các con làm mất nước ruộng, ông nhấc lên vất đi. Nhờ những hạt lúa mẹ Kiêm đi mót và những giỏ cáy bà câu được mà sáu anh em Kiêm học hết cấp hai. Riêng Kiêm học hết cấp ba rồi vào bộ đội. Kiêm chiến đấu ở chiến trường B5. Hết chiến tranh Kiêm được quân đội cho ăn lương quân hàm đi học đại học. Bảo vệ thành công luận văn tiến sĩ, Kiêm chuyển ngành, trở thành chuyên viên chính của Viện.

Ông Thiện, bố của Lương khắc kỷ hơn. Ông cấm không cho mẹ Lương và Lương đi mót lúa. Một lần, Kiêm và Lương đi học về ngang qua cánh đồng làng, đói quá, Kiêm rủ Lương xuống ruộng dưa bở của lão Hớp hái trộm hai quả ngồi bên bờ ruộng ăn. Không ngờ lão Hớp rình bắt được. Lão giật lấy những miếng dưa hai đứa đang ăn dở làm bằng chứng mang về làng tố cáo với ông Kiệm và ông Thiện. Ông Kiệm chỉ lên lớp cho Kiêm bài học về đạo đức mà không đánh con. Còn ông Thiện quất cho Lương ba roi mây đau quắn đít, sau đó bắt cô quỳ dưới sân suốt trưa nắng. Biết chuyện, ông Kiệm bảo Kiêm:

“Con là thằng đầu têu, sang nhận lỗi cho cái Lương đi…”.

Kiêm chạy sang nhà Lương, khoanh tay quỳ gối nhận hết lỗi về mình. Ông Thiện vẫn quát:

“Tuy con Lương không phải là đầu têu nhưng cũng là tòng phạm. Cứ phải ngồi phơi nắng đến hết trưa cho thấm thía, từ nay chừa thói trộm cắp”.

… Nhớ lại những kỷ niệm tuổi thơ, Kiêm tỏ vẻ suy tư, Lương nói:

- Ngồi bên bạn cũ mà sao mặt Kiêm cứ ngơ ngẩn như đang nhớ ai thế?

- Không, mình đang nghĩ về Lương đấy - Kiêm nói - Ngày xưa Lương học rất giỏi môn văn. Chỉ vì bố Lương tiết tháo quá mà nhà nghèo, Lương phải bỏ học khi chỉ còn mấy tháng nữa là thi tốt nghiệp cấp ba.

- Hồi ấy là mùa xuân năm 1972 - Lương nói - Những ngày đầu mới nghỉ học, được tham gia dân quân, phụ trách khẩu đội 12 ly 7, đối phó với lũ phản lực Mỹ suốt ngày đêm, mình vẫn nhớ quay quắt bảng đen, phấn trắng, sân trường. Khi anh Đĩnh từ chiến trường về nghỉ phép, rồi yêu và xin cưới, mình trở thành vợ, thành mẹ, nỗi nhớ thầy, cô và các bạn mới nguôi ngoai dần… Mà thôi, Kiêm đừng nhắc đến kỷ niệm học trò nữa, xa quá rồi. Chúng mình đều đã ở tuổi gần sáu mươi…

Kiêm liếc mắt về phía cái bao đựng rác của Lương, nói:

- Cái làng Ngò này, ai cũng có thể xả rác độc hại ra kênh mương, sông ngòi, nhưng lại vẫn có người lặng lẽ cầm vợt xúc từng mẻ rác đổ vào bao mang đi tiêu hủy. Người ấy là Lương. Mình đang nghĩ, sở dĩ Lương có cái phẩm chất ấy là bởi từ nhỏ bạn được thụ hưởng phương pháp giáo dục “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…” rất nghiêm khắc của người cha!

- Hồi còn nhỏ, mỗi khi cụ quá nghiêm khắc, mình rất giận. Sau này lớn hơn, mình hiểu ra và thương cụ hơn…

Lương kể, sau khi lấy chồng, Lương mang thai rồi có con gái đầu lòng. Đĩnh, chồng Lương tiếp tục trở lại chiến trường B5 chiến đấu. Năm 1975, miền Nam giải phóng, nhiều người lính được xuất ngũ trở về quê thì Đĩnh tiếp tục hành quân sang Cam-pu-chia giúp bạn chiến đấu tiêu diệt chế độ diệt chủng. Ở quê, đơn vị dân quân trực chiến của Lương giải thể. Lương được đi học lớp kỹ thuật thú y rồi trở về làm ở trại chăn nuôi của hợp tác xã, hưởng công điểm. Với số điểm được hưởng, quy ra thóc, mỗi năm Lương được chia ngót một tạ. Hai mẹ con với ngần ấy thóc, nấu cháo cũng thiếu. Ăn chưa đủ, lại còn may mặc, tiêu pha?

Năm 1982, Đĩnh từ chiến trường Cam-pu-chia về nghỉ phép. Lương mang thai con thứ hai. Là con trai. Lương sinh được ít ngày thì Đĩnh chỉ huy tiểu đoàn đi truy kích tàn quân Pôn-pốt, vướng phải mìn, hy sinh. Nghe anh em cùng đơn vị về kể lại, quả mìn giết Đĩnh có tên là mìn Nhảy. Giống như cái ống bơ. Khi chân Đĩnh vướng phải dây, quả mìn kêu phụt một tiếng nhảy lên ngang bụng mới nổ, xé thân thể Đĩnh làm hai phần. Ông Thiện, bố Lương - cụ đồ nho cuối cùng của làng Ngò - biết mình sắp về cõi, gọi Lương đến bên giường nói:

“Con gái à, bây giờ con là vợ liệt sĩ, con nói với mấy anh trên xã bố trí cho công việc phù hợp. Hai con của con phải được học hành…”…

Ít ngày sau, Lương được giao làm Chủ tịch Hội Phụ nữ xã. Lương nhận thấy công việc này phù hợp với mình, cô lao vào hoạt động rất hăng hái. Lương mở lớp hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi lợn tại gia đình, mời chuyên gia về dạy cách đan lát mây tre xuất khẩu cho chị em. Lương mở lớp giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, phòng tránh xâm hại tình dục. Chỉ riêng việc vận động không xả rác ra môi trường là Lương không thể làm được. Bởi cái thói “sống chết mặc bay” dường như nhiễm vào máu, thành một phần trong tính cách của người dân vùng này rồi. Vả lại, nếu rác không xả ra kênh mương, sông ngòi thì lại chất đống nơi cuối làng, bốc mùi vào làng mới khủng khiếp, chẳng khác quả bom vi trùng nổ chậm…

- Thế nên nghỉ hưu rồi, bà cựu Chủ tịch Hội Phụ xã lại phải làm cái việc mang vợt, mang bao đi vớt rác?

- Bây giờ không còn quyền hành để lãnh đạo ai nữa thì mình đành phải làm cái việc “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, may ra có người động lòng trắc ẩn mà làm theo mình,    thế thôi!

Thấy Kiêm lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, Lương bảo:

- Mình biết cái đề tài khảo sát môi trường ở nông thôn của bạn sẽ có phần đề ra giải pháp khắc phục, nhưng mình nghĩ muốn khắc phục được sự ô nhiễm môi trường tự nhiên thì phải giải quyết sự ô nhiễm môi trường xã hội trước!

- Lương nói rõ thêm xem nào!

- Điều đó chẳng nhẽ lại khó hiểu với vị tiến sĩ như Kiêm? Kiêm còn nhớ Nhài, học cùng lớp với chúng mình hồi cấp hai không?

- Có chứ, sao mà quên được cái cô bạn Phạm Thị Nhài, đầu lúc nào cũng rối như tổ quạ, chấy rận bò lổm ngổm, học đến cấp hai mà còn thò lò mũi xanh ấy!

- Nhưng bây giờ thì đã trở thành bà Phạm Tuyết Hương Nhài, nữ đại gia giàu có nức tiếng của thủ đô Hà Nội - Lương nói - Trang phục, giày dép, túi xách đều là hàng hiệu, người lúc nào cũng thơm nức như từ cung vua phủ chúa bước ra!

- Mình cũng nghe nói Nhài rất  phát đạt…?

- Vợ chồng Nhài hiện nay sống rất an nhàn, liên tiếp đi du lịch. Hết trong nước đến ngoài nước. Dạo đi bảy nước châu Âu, Nhài gửi vào facebook của mình nhiều cảnh ăn uống xa hoa quá, mình phải nhắn tin bảo: “Nhài ơi, cậu gửi cho tớ những cảnh khác đi. Đừng gửi cảnh ăn uống nữa, tớ thèm nhỏ dãi đây này”. Đến lúc nghe tin vợ chồng Nhài chuẩn bị đi Mỹ và Ca-na-đa, mình vội đáp xe lên Hà Nội gặp Nhài.

“Nhài, cậu rảỉ tiền đi khắp thế giới như thế mình tiếc lắm. Cậu có thể hoãn chuyến đi Mỹ, Ca-na-đa      được không?”.

Nhài trợn mắt:

“Vì sao tớ phải hoãn?”

“Tớ muốn cậu bớt đi mấy chuyến du lịch, dành tiền đầu tưcho xã mình nhà máy xử lý chất thải. Tình hình ô nhiễm chất thải quê mình bây giờ nghiêm trọng lắm”.

“Tớ không dây với mấy ông bà nông dân đâu” - Nhài nói.

“Sao cậu nỡ nói thế. Chúng mình đều xuất thân con nhà nông dân mà. Hồi cậu còn nhỏ, bố cậu từng phải đi đơm đó tôm thả lờ rạm, mẹ cậu đi cất vó tép để nuôi năm chị em cậu mà!”.

“Đừng lên lớp tớ, vô ích. Vé máy bay tớ đặt rồi. Bây giờ chuyện đầu tư đầu tiếc hãy dành cho bọn trẻ. Còn bọn mình gần cả đời khổ cực đói khát rồi, sống được bao lâu nữa mà không hưởng thụ cho bõ cái thân già!”.

Bị Nhài từ chối, nhưng Lương vẫn không chịu bỏ cuộc. Rời dinh thự của Nhài ở quận Cầu Giấy, Lương vẫy taxi lên biệt phủ của Nguyễn Cự Đoạt ở chân núi Tam Đảo. Đoạt học sau Lương và Kiêm ba lớp. Đoạt rất vui và hãnh diện khi Lương đến thăm biệt phủ. Lương đặt vấn đề muốn Đoạt đầu tư làm nhà máy xử lý rác cho quê hương, Đoạt suy ngẫm một lát rồi nhận lời. Mấy hôm sau Đoạt lái con Lexus về lượn lòng vòng quanh làng Ngò rồi dừng lại trước sân Ủy ban xã Sa Phú. Cuộc họp giữa các vị lãnh đạo xã với nhà đầu tư diễn ra khá sôi nổi. Đoạt đồng ý đầu tư nhà máy xử lý rác cỡ trung bình cho xã Sa Phú, nhưng với điều kiện xã phải cắt một thửa đất ở vị trí trung tâm để Đoạt xây đền thờ Thành Hoàng. Đoạt chìa ra tờ hợp đồng ghi rõ: khi xây xong đền, xã sẽ phải bốc bát hương, bài vị mang tên Đoạt. Khi Đoạt mất nghiễm nhiên anh trở thành Thành Hoàng xã Sa Phú. Bàn đến đây, các vị lãnh đạo xã cùng các thành viên dự họp đều ngắc ngứ, bế tắc, chưa ai tiện phát ngôn gì.

Ông Chủ tịch Hội Cựu chiến binh ngồi nghe có vẻ nôn nóng, chờ Đoạt đi khỏi, ông đứng dậy, nói:

“Thưa các vị! Xét về lý, anh Nguyễn Cự Đoạt có công đầu tư hẳn nhà máy xử lý rác thải cho xã thì anh ấy có quyền đỏi hỏi sự đền đáp lại từ phía xã, bởi có đi có lại mới tọai lòng nhau. Tôi chỉ băn khoăn rằng, chuyện anh ấy trở thành đại gia cũng còn hơi khuất tất, tôn anh ấy trở thành Thành Hoàng có nên chăng?”.

“Đúng rồi, xã ta tuy chưa có đền thờ Thành Hoàng thật, nhưng chúng ta không thể đánh đổi cả danh dự, nhân phẩm để lấy cái nhà máy xử lý nước thải…”.

Một vài người cùng nói thế.

 

Kể đến đây, Lương nhìn về phía trời tây, nơi hoàng hôn đã ngả màu vàng xuộm, nói với Khiêm:

- Trong những ngày công tác ở đây, Kiêm bớt chút thời gian vào thăm nhà mình, ăn với mình bữa cơm quê - Lương nói, rất thành thực - Con gái mình dạy học, lấy chồng, ở riêng. Con trai, tốt nghiệp đại học nông nghiệp, vẫn ở với mẹ. Mấy hôm nay cháu đang học theo truyền hình khởi nghiệp, đấu thầu ruộng ghềnh làm trang trại trồng rau sạch…

- Mình sẽ đến thăm nhà Lương vào ngày gần nhất. Điều mà mình muốn biết ngay bây giờ là cái dự án đầu tư nhà máy xử lý rác thải của xã có thực hiện được không?

- Vẫn đang nhùng nhằng - Lương đáp - đại gia Nguyễn Cự Đoạt thì cứ bắn tin về nói rằng xã phải xây đền thờ Thành Hoàng thờ sống ông ấy thì mới chịu đầu tư nhà máy. Còn các vị ở xã vẫn chưa chịu. Trong khi đó từ trong làng ra đến ngoài đồng rác thải chai lọ độc hại vẫn ngày càng bộn lên - Lương chỉ tay về phía sông Vạm - Kiêm nhìn xem, dòng sông Vạm trước kia tưới tiêu cho cả miền thượng huyện, tôm cá nhiều vô kể, nuôi sống tuổi thơ của chúng mình, bây giờ thành cái rãnh nước thải khổng lồ. Không con gì sống nổi. Cứ ba ngày người ta lại phải tháo nước cho chảy ra sông Cái một lần để trôi bớt rác, bớt mùi uế khí…

- Vậy rác rến bẩn thỉu trôi ra sông Vạm rồi trôi đi đâu nữa?

- Trôi ra biển. Thứ gì không trôi ra đến biển được thì dạt vào chỗ nào đó, rồi người sống ở đấy sẽ phải hứng chịu. Người ở đấy có khi lại đẩy ngược ra dòng chảy dạt vào nơi khác nữa… cứ thế… cứ thế…g

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

 

 

Truyện ngắn của Lê Hoài Nam

 

.