Cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển: Thiếu trước, hụt sau
Cập nhật lúc21:26, Thứ Hai, 29/05/2017 (GMT+7)

Để quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển hiệu quả cao, bền vững, đòi hỏi hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) biển phải được cập nhật chính xác về thực trạng, diễn biến. Tuy nhiên, hoạt động, nghiên cứu, khảo sát, xây dựng CSDL biển chưa đáp ứng yêu cầu.

 

Hoạt động nghiên cứu, thu thập dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển chưa đáp ứng yêu cầu. Trong ảnh: Khu vực bãi biển Cát Đồn. 						Ảnh: Duy Lê

Hoạt động nghiên cứu, thu thập dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển chưa đáp ứng yêu cầu. Trong ảnh: Khu vực bãi biển Cát Đồn.

Ảnh: Duy Lê

 

Thông tin, dữ liệu về biển còn “nghèo nàn”


Sơ sài, nhiều thành phần môi trường, tài nguyên biển không có số liệu, không có thông tin, không được cập nhật thường xuyên, đó là thực trạng hệ thống CSDL tài nguyên, môi trường biển hiện nay.


Báo cáo đánh giá công tác bảo vệ môi trường năm 2016 của UBND thành phố vừa công bố cho thấy, chỉ có 1/7 danh mục chỉ tiêu về môi trường  biển có số liệu thống kê. Đó là số liệu về loài nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ. Còn lại có 6/7 thành phần môi trường biển thành phố chưa có được số liệu thống kê đầy đủ. Đáng chú ý, đây đều là chỉ tiêu quan trọng phục vụ việc đánh giá hiện trạng, diễn biến môi trường biển, như chỉ tiêu về rạn san hô. Được biết, sự mất đi hay tăng thêm diện tích san hô sẽ phản ánh môi trường biển tốt lên hay xấu đi. Tuy nhiên, cơ quan chức năng chưa có thông tin về diện tích rạn san hô hiện có, số diện tích này tăng hay giảm, giảm bao nhiêu so với 5-10 năm trước cũng chưa có con số để đánh giá cụ thể. Các thông tin, số liệu về diện tích hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng, hệ sinh thái tự nhiên cần được bảo vệ, về số loài nguy cấp, quý hiếm cần được bảo vệ, số nguồn gen quý có giá trị,… cũng chưa có số liệu chính thức.


Bên cạnh đó, các thông tin về nguồn gây ô nhiễm cũng chưa có số liệu chính xác, đầy đủ, như lượng phế liệu nhập khẩu, tồn dư tại cảng biển, số lượng tàu biển nhập khẩu về phá dỡ. Theo Sở Tài nguyên-Môi trường, thành phố chưa có danh mục mô tả đầy đủ, cụ thể về thông tin dữ liệu tài nguyên-môi trường biển. Các dữ liệu điều tra, nghiên cứu chuyên ngành về tài nguyên môi trường biển được thực hiện qua nhiều thời kỳ, thuộc nhiều chương trình, kế hoạch, quy hoạch, đề tài, dự án của nhiều sở, ban, ngành ở thành phố hoặc bộ, ngành trung ương. Do đó, CSDL không bảo đảm tính hệ thống và chưa được chuẩn hóa, chưa bảo đảm chất lượng, cơ sở khoa học
tin cậy.


Trong khi đó, việc đầu tư phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, xây dựng CSDL tài nguyên-môi trường biển hạn chế. Viện TNMT biển nằm trên địa bàn thành phố có chức năng nghiên cứu khoa học cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu biển. Nhưng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu rất hạn chế. Viện chưa có tàu khảo sát, nghiên cứu biển chuyên dùng. Việc điều tra, khảo sát  phải thuê tàu cá hoặc tàu của một số ngành khác, không phù hợp và bảo đảm an toàn cho cán bộ nghiên cứu.  Thiết bị máy móc điều tra, khảo sát biển cũng như phân tích trong phòng thí nghiệm của viện phần lớn được trang bị 10-15 năm trước. Viện hiện chưa có những thiết bị chuyên dùng để có thể nghiên cứu chuyên sâu, như nghiên cứu về vi sinh vật, vi rút biển,…

 

Cần tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Cần tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

 


Đầu tư phương tiện cho đơn vị nghiên cứu


Theo Viện trưởng Viện Tài nguyên-Môi trường biển Trần Đình Lân, thiếu CSDL đồng nghĩa thiếu cơ sở khoa học để quy hoạch, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, môi trường biển. Điều này có thể thấy qua việc khai thác, sử dụng đất ngập nước thời gian qua đạt hiệu quả không cao; làm hệ sinh thái đất ngập nước bị suy thoái và phát sinh những mâu thuẫn lợi ích. Đặc biệt là các hoạt động khai thác cát gây tác động tiêu cực về ô nhiễm môi trường, biến dạng cảnh quan và xói lở bờ biển; xảy ra tranh chấp giữa hoạt động khai thác cát với hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trên biển,….


Để tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong giai đoạn phát triển mới, Viện trưởng Viện TNMT biển Trần Đình Lân đề nghị cần tăng cường tiềm lực cho các cơ quan nghiên cứu, quản lý tài nguyên-môi trường biển, từng bước khắc phục tình trạng lạc hậu, thiếu đồng bộ về phương pháp, thiết bị khảo sát và phân tích. Cùng với đó, thành phố cần xem xét cơ chế và thúc đẩy triển khai các thỏa thuận với các đơn vị nghiên cứu ở Trung ương. Trong đó, xác định nhu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu, cơ chế tài chính để phối hợp nghiên cứu; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Chú trọng đào tạo cán bộ về khoa học và công nghệ biển như về tài nguyên môi trường biển, bao gồm cả cán bộ quản lý khoa học, cán bộ nghiên cứu khoa học và cán bộ kỹ thuật.


Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến nghị Thủ tướng Chính phủ đưa nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo vào chương trình công tác năm 2017 của Chính phủ. Ưu tiên một số nhiệm vụ: xây dựng và triển khai thực hiện các dự án điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; điều tra chi tiết tài nguyên ở một số khu vực có tiềm năng tài nguyên, khoáng sản; điều tra, quan trắc, giám sát, quản lý chặt chẽ môi trường tại một số khu vực ven biển, nơi tập trung hoạt động của khu công nghiệp có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường cao từ các hoạt động xả thải, một số khu vực có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao do chịu ảnh hưởng của tự nhiên.Hoàn thiện hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để chia sẻ, sử dụng thông tin dữ liệu điều tra.


Đây là cơ sở để thành phố có sự quan tâm, đầu tư hơn cho lĩnh vực nghiên cứu, xây dựng CSDL biển, phục vụ sự phát triển bền vững.

 

Nguyên Mai

.